1. Vòng 120 Phân Kim trên la kinh được chia như thế nào?
Trên vòng la bàn 24 sơn hướng (mỗi sơn rộng 15°), cổ nhân chia tiếp mỗi sơn thành 5 phần bằng nhau (mỗi phần rộng đúng 3°), tạo thành tổng cộng 24 × 5 = 120 cung nhỏ gọi là 120 Phân Kim (Nhị thập tứ sơn Phân kim). Phép chia tinh vi này giúp người khảo sát chọn được độ số thuần khiết thuộc Vượng – Tướng và tránh các vạch giáp ranh bất ổn định về từ trường.
2. Bảng phân biệt tuyến Cát độ và các tuyến Không Vong cần tránh
Khi xem hướng mộ hợp tuổi và thế đất, mục tiêu quan trọng nhất của phép Phân kim là đưa trục tim của kim tỉnh và tiểu quách vào các cung chính khí, tuyệt đối tránh đường phân ranh:
| Thuật ngữ chuyên môn | Vị trí độ số trên vòng 360° | Ý nghĩa & Nguyên tắc xử lý thực tế |
|---|---|---|
| Chính tuyến Cát độ (Vượng / Tướng phân kim) | Các phân kim mang can Bính, Đinh, Canh, Tân (tương ứng hào Cửu lục trong quẻ Dịch). | Khí trường ổn định, thuần khiết; ưu tiên chọn làm trục đặt tiểu quách và bia mộ. |
| Đại Không Vong (大空亡) | 8 vạch ranh giới nằm chính giữa 8 quẻ Bát quái: 22,5°; 67,5°; 112,5°; 157,5°; 202,5°; 247,5°; 292,5°; 337,5° (±1,5°). | Tuyệt đối tránh đặt tim mộ trùng vào 8 vạch này vì phương vị bị tạp loạn giữa hai quẻ khác nhau. |
| Tiểu Không Vong (小空亡) | 16 vạch ranh giới nằm giữa các sơn kế tiếp trong cùng một quẻ (cứ mỗi 15° kể từ 7,5°: 7,5°; 37,5°; 52,5°…). | Không đặt trục tim mộ đè lên vạch giáp ranh; cần xoay lệch vào trong lòng sơn tối thiểu 1,5°–2°. |
3. Kỹ thuật căng dây phân kim ngoài thực địa để thợ xây không làm lệch
Sai lầm thường gặp là chỉ đo hướng một lần lúc đất trống, đến khi máy xúc đào móng hoặc thợ xây ghép ván khuôn thì tim mộ bị lệch đi 3°–5°. Trong quy trình của dịch vụ Xem hướng mộ cùng Thầy Vy Thanh, trục phân kim luôn được cố định bằng 2 cọc mốc đóng xa ngoài phạm vi đào đất và kiểm tra lại lần thứ hai ngay khi đặt tiểu quách xuống đáy huyệt. Gia đình có thể kiểm tra nhanh cảnh báo giáp ranh Không Vong tại Công cụ La bàn 24 Sơn Hướng.
4. Giải thích nguyên lý chọn Phân kim Bính – Đinh – Canh – Tân trong mỗi sơn
Trong mỗi sơn hướng rộng 15° (chia làm 5 ô phân kim × 3°), vì sao các bậc thầy địa lý cổ truyền chỉ chọn 2 ô mang can Bính – Đinh hoặc Canh – Tân mà bỏ qua 3 ô Giáp – Ất, Mậu – Kỷ, Nhâm – Quý?
4.1. Căn cứ quẻ Dịch và độ thuần khiết của trục từ trường
Theo Tinh yếu Địa Lý Chính Tông & Hệ thống 120 Phân Kim, ô chính giữa của mỗi sơn (ứng với can Mậu hoặc Kỷ, rộng 3° ngay tâm sơn) tuy nằm giữa nhưng theo lý khí lại thuộc cung “Cô Hư / Qui Giáp” thiếu sự biến hóa sinh sôi; còn hai ô ngoài cùng rìa sơn (Giáp – Ất và Nhâm – Quý) lại nằm sát vạch ranh giới Tiểu Không Vong và Đại Không Vong nên rất dễ bị sai số thi công đẩy sang sơn khác. Ngược lại, hai ô Bính – Đinh và Canh – Tân vừa thuộc quẻ Vượng/Tướng vừa cách vạch ranh giới một khoảng an toàn.
4.2. Ví dụ thực tế định vị Phân kim tại công trình Bắc Ninh và Huế
Tại Khu lăng mộ họ Phạm – Bắc Ninh và Lăng mộ họ Hoàng – Huế, khi lập hướng Tọa Càn hướng Tốn (tâm sơn Tốn là 135°), trục tim tiểu quách được căn chỉnh chính xác vào độ số 132° (Phân kim Đinh Tỵ) hoặc 138° (Phân kim Tân Tỵ) để đạt vượng khí thuần khiết.
5. Câu hỏi thường gặp về 120 Phân kim và Không Vong
5.1. Nếu ngôi mộ cũ đo lại thấy chớm vào vạch Tiểu Không Vong thì có phải đào lên không?
Nếu ngôi mộ đã yên ổn, khô ráo và gia đạo bình an thì tuyệt đối không đào xới kim tỉnh dưới đất; khi trùng tu chỉ cần xoay nhẹ góc đặt tấm bia mộ, bát hương hoặc thiết kế lại hướng mở cổng và cuốn thư đá bên trên để điều hướng nạp khí.
5.2. Thợ xây dùng thước dây thông thường làm sao căn được độ lệch 1°–2° của Phân kim?
Thầy Vy Thanh luôn quy đổi góc độ la kinh ra khoảng cách centimet cụ thể trên hai cạnh khung móng (theo lượng giác phẳng) và đóng 2 cọc sắt cố định để thợ xây chỉ cần căng dây cước thẳng theo 2 đầu cọc là đạt độ chính xác dưới 0,5°.